Hiệu sách nhỏ ở Paris của Nina Goerge đã đưa tôi đến với Mù lòa. Và quả thật nó đúng là một liều thuốc khó uống cho người đọc – đặc biệt là những người trẻ tuổi.
Đó là câu chuyện về một dịch bệnh – mù trắng – và tất cả những gì diễn ra đúng như ngoài đời thật ta làm khi gặp một dịch bệnh. Cách ly, vỡ trận, cả thế giới chìm trong một cơn dịch mù trắng. Chỉ trừ một người, một người phải nhìn thấy để còn kể câu chuyện này tới bạn đọc.
Ám ảnh mà không rùng rợn
Thế giới chìm trong đại dịch mù trắng đầy điên loạn, đầy rác rưởi, nhoe nhoét cứt, người cắn người, sờ soạn trong một màu trắng để cắn xé nhau, chiếm đoạt nhau về của cải, tình dục, quyền lực. Thế giới không có bệnh mù cũng vậy: đầy điên loạn, rác rưởi ở khắp mọi nơi, ngập tràn cứt, người cắn xé người, chiếm đoạt của cải, tình dục, quyền lực, … mà có mấy người nhìn thấy? Câu chữ trong sách cũng trôi nổi lềnh phềnh lên nhau.
Cứ mỗi trang sách trôi qua, ta lại háo hức đọc chờ xem điều gì sẽ chờ đón ta ở phía trước. Họ sẽ sống làm sao? Vợ bác sĩ sẽ lựa chọn làm gì những hàng nghìn lựa chọn? Bà vẫn nhìn thấy nhưng thực sự bà có nhìn thấy những gì sắp xảy đến? Liệu bà có bị mù không? Từng ngày cứ trôi qua, trôi qua mà ta chẳng thấy sợ hãi.
Tình dục muôn màu cảm xúc
Cô gái đeo kính đen từ phòng khám đến phòng khách sạn, và mù, và ta thấy thích đáng, thấy sung sướng cho loại đàn bà mất nết này. Đúng là trời có mắt mà. Thật là hả hê.
Rồi khi ở khu cách ly – thật khéo léo – một bệnh viện tâm thần, những kẻ đến sau với vũ khí, với một người mù đen đã bóc lột tiền của, và bóc lột cả thể xác những người phụ nữ. Những phụ nữ khác hiến dâng mình cho những người đàn ông trong phòng, Cô gái đeo kính đen cũng vậy, cô làm điều đó với từng người bằng tất cả sự dâng hiến, cả với ông già chột một mắt. Ta thấy thương, thấy yêu, thấy cảm phục, thấy trân quý.
Khi lũ lượt kéo sang phòng của những kẻ cầm quyền, đổi tình dục lấy đồ ăn cho phòng, ta thấy đau đớn, thấy xót xa rồi căm phẫn. Ta sẽ coi vợ bác sĩ là anh hùng vì đã giết chết tên cầm đầu, rồi đốt sạch giết sạch cả cái lũ khốn kiếp đó.
Chẳng cần một cái tên nhưng khiến ta phải suy nghĩ
Không có một cái tên nào xuất hiện trong sách. Không tên nhân vật, không tên địa danh, không tên nào hết. Cái tên duy nhất lại là tên một con chó. Động vật lại con người hơn cả con người. Nhà văn viết văn dù biết rằng chẳng ai sẽ đọc nó. Bác sĩ mắt không thể chữa cho chính mình. Người nhìn thấy thì để cho kẻ mù bóc lột hết lần này đến lần khác, đến khi chẳng còn gì nữa mới phản kháng lại.
Rồi tất cả tượng trong nhà thờ cũng che băng ở mắt. Thần thánh không muốn nhìn con chiên của mình? hay họ cũng bị dịch bệnh như họ? Bà lão mù vào ở nhà cô gái đeo kính đen tự trồng rau, tự nuôi gà-thỏ, và ăn sống chúng. Rồi được chôn trên chính mảnh vườn đó.
Rất nhiều những tình tiết khác nữa đều là một cuộc đấu tranh tư tưởng, một sự chuyển biến tâm lý rất con người, rất nhân văn và ẩn chứa rất nhiều bài học sâu sắc.
Cuốn tiểu thuyết được bắt đầu bằng những cơn mưa phùn gió bấc của mùa đông. Hàng cây run rẩy, mái ngói lập cập, mặt đường trơn trượt. Và kết thúc khi những ngày thu sắp tàn để một mùa đông nữa lại đến…
Không có câu thoại ấn tượng nào, không có câu từ mỹ miều nào để trích dẫn lại. Những nhân vật cũng không quá đặc sắc, có chăng đặc biệt chỉ là những biệt danh, nickname của thời @…
Tôi thì bắt đầu đọc Lá rơi trong thành phố từ cuối năm 2015, và đọc đến dòng cuối cùng của trang 437, vào hôm tối qua, sau gần 7 năm. Đọc song, tôi như được sống lại quãng thời gian từ 2007 đến 2013 với bao thăng trầm của cái tuổi thoát khỏi sự bao bọc của gia đình bước vào đời.
Nó gợi lại thời điểm Việt Nam bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm đối với người đi xe máy. Tôi vừa kết thúc 2 năm học trung cấp ra trường, cầm tấm bằng loại giỏi ngành PV quay phim trong tay, rồi gia nhập đội xốp trong một công ty lắp ráp mũ bảo hiểm. Những ngõ và quán thuộc phố Minh Khai, mơ ước về một chiếc wave rs có đôi thụt sau màu vàng, rượu và thuốc lào, …
Nó gợi nhớ trận lũ lụt lịch sử năm 2008. Tôi đã có công việc đúng ngành học, trong một công ty CNTT. Hà Nội chìm trong biển nước, tôi trọ ở Ngọc Trục, Đại Mỗ, một làng trồng đào, không khí tết thường đến sớm. Phòng trọ nhỏ, một mình, những cuộc tiếp đãi bạn bè, lạ rang và cá khô, chiếc tăm dùng lại, … nương nhau bằng những dự định, … và mối tình đầu.
Mối tình đầu của Củ Đậu đẹp và kết thúc như rất rất nhiều mối tình đẹp, nhưng không thành bởi cùng một lý do, bố mẹ của một bên nào đó thấy không tương xứng, về gia thế, về tuổi tác, về học hành, … May mắn thay, mối tình đầu của tôi đã vượt qua được, dù cũng gặp rất nhiều trở ngại, rất nhiều dại dột và rất nhiều đau thương. Có những vết thương còn đau đến tận bây giờ.
Lương chỉ đủ sống đến ngày 23 hàng tháng, chờ đến 28 có lương, tôi vay tiền bạn bè, oing bà, hoặc đi ăn cùng anh chị trong phòng ở những quán sang trọng, hoặc ăn chịu. Rồi có lần nhắn tin rằng hết tiền, em đã nấu cơm và mang đến tận công ty cho tôi. Bữa trưa trong phòng họp năm đó có vị mặn của nước mắt, tủi thân và hạnh phúc hòa với nhau.
Giai đoạn của hội nhập, của nhạc nước ngoài, của ma túy đã cướp đi rất nhiều bạn bè của tôi, của thế hệ 8x. Củ Đậu thật may mắn khi sinh ra trong một gia đình cơ bản, còn rất nhiều 8x thì không. Chúng tôi như những chiếc lá bị cuốn khỏi cành trong một cơn mưa bão, bị vứt xuống đường, xuống vườn, xuống cống hay xuống sông? Chúng tôi không biết. Chúng tôi cứ hoang dại mà tồn tại, mà trưởng thành.
Khép lại cuốn sách vào buổi tối, tôi đã có thêm một đêm thao thức khó ngủ. Những cảm xúc trong veo trong tôi được gợi nhớ lại. Quãng đường đã qua như một movie đầy màu sắc, âm thanh, vô cùng sống động vừa được chiếu qua ký ức.
Tôi nghĩ, bất cứ ai thuộc 8x về trước, cũng như bất cứ ai muốn tìm hiểu về tuổi trẻ của 8x, đều nên đọc 1 lần cuốn sách này.
Hảo không giỏi tiếng Anh, không biết gì về tiếng Pháp, nên chưa từng đọc một tác phẩm văn học nước ngoài nào ở bản gốc của nó. Nhưng Hảo lại rất mê văn học nước ngoài, đặc biệt là những tác phẩm của các tác giả được Nobel văn chương. Do đến với sách khoảng 4 năm nay, không có cơ hội sở hữu các bản sách phát hành trước đây, nên giờ hễ nghe có tin xuất bản sách Nobel là đặt mua. Khá nhiều cuốn mua mà chưa kịp đọc.
Trước khi bản dịch “Kẻ ngoại cuộc” xuất hiện, Hảo đã mua bản dịch “Người xa lạ” từ năm 2019, nhưng không đọc. Khi cầm trên tay “Kẻ ngoại cuộc” bìa cứng thì đã lật đọc luôn. Ngay trang đầu tiên thôi, những câu từ của dịch giả dùng đã khiến Hảo bị mất phương hướng, không thể nắm bắt được ý tứ của câu chuyện. Rồi cả những trang sau cũng khiến cho Hảo có cảm giác, mình là một kẻ ngoại cuộc của bản dịch này. Ngôn từ này không dành cho sự hiểu biết quá hạn hẹp của mình!
Vậy nên Hảo gấp “Kẻ ngoại cuộc” lại và mở “Người xa lạ” ra đọc. Và đọc hết được đến tận cuối trang cuối cùng. Sau khi đọc xong, Hảo lật lại hai bản dịch đối chiếu, để tìm hiểu xem tại sao mình lại không thể hiểu được “Kẻ ngoại cuộc” nhưng lại hiểu được “Người xa lạ” và nhận thấy có một vài câu từ trong “Kẻ ngoại cuộc” đúng là không thật sự dễ hiểu với Hảo. Cũng có nghĩa nó sẽ rất khó hiểu hoặc gây hiểu sai đối với rất nhiều bạn đọc trong độ tuổi của Hảo hoặc trẻ hơn. Xin được chia sẻ lại với các bạn trong group vài điểm khó hiểu đó.
Đầu tiên là từ “lấy” được dịch giả Liễu Trương dùng trong “lấy xe buýt”, “lấy tàu điện” để chỉ việc bắt/đón xe/tàu để đi đến một điểm nào đó. Theo từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê, “lấy” có nhiều ý nghĩa, nhưng đều quy về nghĩa “làm cho mình có được” cái gì đó để sử dụng, ví dụ như: lấy bút để viết, lấy xe máy để đi chơi, lấy cắp, … Nên khi đọc “lấy xe buýt”, Hảo bị hiểu là nhân vật này chắc là có xe buýt riêng, hoặc là tài xế xe buýt, việc “lấy” là chủ động muốn lúc nào là được lúc đó. Nhưng ở trang sau, có đoạn “Tôi đã chạy để khỏi hụt chuyến xe” thì Hảo hiểu là mình đã nắm bắt sai ý của tác giả ở trang trước. Ảo thật đấy!
Cụm từ thứ hai là “nhà dưỡng lão”. Trong thời đại ngày nay, nhà dưỡng lão là nơi dành cho người già đến nghỉ ngơi an dưỡng tuổi già, và thường là mất một khoản chi phí để được ở đó. Bản thân cụm từ cũng nói rõ là nhà-dưỡng-lão, rất khó để Hảo hiểu khác đi được dựa trên những trải nghiệm hạn hẹp của mình. Nó không có vấn đề gì với cụm từ “nhà dưỡng lão” nếu như không đọc hết tác phẩm. Bởi sau đó, nhân vật “tôi” đã dính vào một vụ án, mọi lời khai của các nhân chứng đều chống lại anh ta, bởi vì (một phần lớn lý do) anh ta đã cho mẹ mình vào “nhà dưỡng lão”.
“Nhà dưỡng lão” theo Hảo là từ mới được hình thành từ khoảng sau chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc có thể là muộn hơn. Chứ trước đó, nơi mà mẹ của nhân vật “tôi” cũng như các nhật vật khác là bạn, là người gác có thể là “nhà tế bần” – một hình thức phúc lợi xã hội dành cho người nghèo, người già không nơi nương tựa ở các nước phát triển. Xét theo cách hiểu này, và đặt nó vào bối cảnh của câu chuyện, Hảo thấy có phần hợp lý hơn. Bởi vì không nuôi được mẹ, nhân vật chính đã đưa mẹ vào nhà tế bần và bỏ mặc bà ở đó. Khi mẹ mất thì đến tham gia đám tang như một người xa lạ. Sáu đám tang đã hẹn hò, đã xem phim hài. Nên mới gây ra sự phẫn nộ của các nhân chứng trong phiên tòa. Dùng “nhà dưỡng lão” Hảo thấy các nhân chứng vô lý, chậm tiến và “tôi” rất đáng thương. Còn dùng “nhà tế bần”, Hảo lại thấy “tôi” thật kinh tởm. Hai cách dùng từ rõ ràng là đem lại hai trạng thái cảm xúc hoàn toàn khác biệt.
Ví dụ ở một đoạn khác, sau khi ở đám tang về, hôm sau nhân vật chính dậy muộn, trong lúc cạo râu “Kẻ ngoại cuộc” đã “quyết định đi tắm”, rồi “lấy tàu điện” để đi đến “nhà tắm ở hải cảng” và “ngụp xuống một cái lạch”; còn “Người xa lạ” thì “quyết định đi bơi” rồi “bắt xe điện xuống bãi tắm ở bến cảng”, và “ngụp lặn trong một eo biển”. Ở “kẻ ngoại cuộc”, nếu Hảo hiểu đúng theo cách dịch, anh ta chính xác là có vấn đề về thần kinh, bởi nếu chỉ quyết định tắm thì anh ta có thể mở vòi hoa sen, hoặc xả nước ra tắm, sao phải mất công đi lấy tàu điện, đi ra nhà tắm ở hải cảng (cảng biển có hoạt động vận tải), rồi lại ngụp xuống 1 cái lạch? Ảo thật đấy! Quả là ngôn từ đó không phải dành cho sự hiểu biết quá hạn hẹp Hảo.
Hoặc có thể nào, chính cách dùng những từ ngữ xa lạ có phần “ngoại cuộc” này là thủ pháp nghệ thuật của dịch giả, nhằm lột tả cái nhìn mọi điều bình thường của nhật vật “tôi” đều không bình thường. Anh ta nhìn, nói, làm và coi mọi thứ khác với cách nhìn, cách nói, cách làm của một người bình thường. Thế nên anh ta mới là “Kẻ ngoại cuộc”, là “người xa lạ”!
Với cá nhân Hảo thích bản dịch “Người xa lạ” của dịch giả Thanh Thư hơn.
Đọc truyện xưa, ta thường vô thức đặt nó vào hoàn cảnh của ngày này để so sánh một cách vô thức. Thấy thương, thấy cảm thông và thấy đẹp.
Phụ nữ của thời cách đây gần một thế kỷ là thời của tam tòng tứ đức, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Nên nếu chỉ cần có trong đầu mình cái suy nghĩ đi ngược lại, làm trái lại những thứ trên đều là thứ con gái hư hỏng, mất nết.
Do vậy, cái tình thế của Nhung trong “Lạnh lùng” là một tình thế trái ngang. Lấy chồng theo sự sắp đặt của cha mẹ chứ không có tình yêu. Chồng mất khi cô vừa tròn hai mươi. Theo lẽ thường, sau ba năm chịu tang, cô có thể được tự do tìm cho mình hạnh phúc mới.
Nhưng trớ trêu thay, với những luân thường đạo lý ngày ấy, cô đã không được phép làm thế. Ôi, ở cái tuổi hai mươi ba đúng độ đẹp nhất, căng tròn nhất của thanh xuân, Nhung lại còn là “gái một con” nữa, cô đã phải đè nén những cảm xúc của mình, đấu tranh giữa khát khao cá nhân với thể diện của gia đình mình, gia đình nhà chồng. Một cuộc chiến tâm lý rất con người.
Ta sẽ rất dễ đồng cảm với những cảm xúc của Nhung, thông cảm và như đang sống trong chính những cảm xúc ấy. Chênh vênh giữa hai lựa chọn, mà chọn cái nào cũng phải đánh đổi một cái gì đó – cái mà ta đều trân trọng.
Một đằng là tình yêu, là tương lai của mình, nếu theo Nghĩa, sẽ được sống với đúng những cái ôm da diết, nụ hôn nồng nàn và cả đụng chạm xác thịt. Nhưng sẽ khiến cho bố mẹ mình buồn mà sinh ra ốm đau đến chết, khiến cho cái danh giá của bốn chứ “tiết hạnh khả phong” của mẹ chồng bị hoen ố.
Để rồi, lựa chọn còn lại trở thành lựa chọn mang tính hi sinh, ở vậy thờ chồng nuôi con chăm cha mẹ. Và tham gia vào một đời sống giả dối. Cô vẫn giữ được tiếng thơm “tiết hạnh”, dù đã không còn xứng với nó nữa, khi đã yêu Nghĩa, đã vụng trộm với tình yêu đó hết lần này đến lần khác. Mẹ chồng cô dù biết tỏng cái sự tình đó những vẫn phải tìm cách để lấp liếm, để cho đậy giúp cô, vì cái bức “Tiết hạnh khả phong” mà mình đã sống với nó một đời.
Có lẽ, con người ta thích sống giả dối như thế, bởi nó giúp ta có được một cái mặt lạ đẹp đẽ – cái thể diện – để khoe với đời? Hay cái thể diện đó như một thứ thuốc độc đang giết dần giết mòn những cảm xúc, những ước mơ, những con người đầy đam mê và nhiệt huyết.
Nếu Nhung sống ở thời nay, vào thế kỷ 21 này, thì hẳn cô sẽ thoải mái sống với niềm khát khao yêu và được yêu của mình. Những lời tự sự của cô trên Twitter, những tấm hình của cô Facebook, những clip của nàng trên TikTok, … hẳn sẽ nhận được rất rất nhiều lượt tương tác.
Tiếc là Nhung lại sống vào những năm ba mươi của thế kỷ trước…
Khi một nhóm người có những mối liên hệ nào đó với nhau sẽ tạo thành một tổ chức xã hội. Điều này liệu có đúng với sách? Một nhóm những cuốn sách có liên hệ với nhau sẽ tạo thành điều gì? Tôi chưa biết gọi nó là gì.
Nhưng tôi tin rằng những cuốn có những mối liên hệ với nhau theo cách này hoặc cách khác. Ví dụ như cuốn “Lời hứa về một cây bút chì” của Adam Braun (AB).
Khi tôi muốn tìm hiểu về “đổi mới, sáng tạo”, tôi đã đọc một cuốn sách viết về Steve Jobs của Carmine Gallo. Cách viết của ông đã khiến tôi tò mò về “thuyết trình, hùng biện” – một kỹ năng khác mà tôi thực sự yếu kém. Tôi tìm đọc cuốn “Hùng biện kiểu TED” do ông viết. Cuốn này tiếp tục khơi gợi những khái niệm về “nghệ thuật kể chuyện”, rồi nó dẫn tôi đến cuốn “Bí mật của người kể chuyện” của ông.
Một lần nữa, “Bí mật của người kể chuyện” lại làm nhiệm vụ dẫn dắt trí tò mò cả tôi tới Adam Braun cùng câu chuyện của anh ấy. Đó là lý do mà bài post này xuất hiện với tấm hình cuốn sách “Lời hứa về một cây bút chì”. Những cuốn sách đã liên hệ với nhau theo cách như thế.
Có ai đó đã nói rằng: Nếu bạn làm thay đổi cuộc đời của 10 người trở nên tốt đẹp hơn, mỗi người đó lại thay đổi 10 người nữa, ó nghĩa bạn đã thay đổi 100 người. 100 người đó tiếp tục thay đổi 1000 người, và trong khoảng vài thế hệ, cả 7 tỉ con người trên trái đất sẽ trở nên tốt đẹp. Vậy là bạn đã thay đổi thế giới này chỉ bằng việc giúp đỡ cho 10 người lúc đầu.
Câu chuyện của AB trong “Lời hứa về một cây bút chì” là một câu chuyện đầy cảm xúc như vậy. Và chẳng có con đường nào dẫn đến thay đổi lại bền vững bằng con đường giáo dục. Bạn cho cá, sẽ giúp người ta có cá ăn một bữa. Bạn cho cần và dạy cách câu cá, họ sẽ có cá ăn một đời.
Câu chuyện của AB còn truyền được một nguồn năng lượng tích cực, khiến tôi không chỉ thích thú, tâm đắc, mà còn thúc đẩy tôi dẫn đến hành động. Tôi đã tham gia ủng hộ một dự án xây dựng trường học tương tự như quỹ “Bút chì hứa hẹn”, nhưng ở Việt Nam, có tên là Sức mạnh 2000 – Tiền lẻ mỗi ngày Xây ngay nghìn trường mới.
Tôi tin rằng, với hành động nhỏ này, có một ngôi trường mới sẽ được dựng lên. Ngôi trường sẽ xây lên những ước mơ của hàng chục học sinh, giúp họ sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn sau này.
Sách tồn tại những kết nối với nhau, và nó còn giúp kết nối những con người sát lại gần nhau hơn. Con người là sinh vật có đời sống xã hội cao nhất, nhờ có sách, sẽ ngày càng trở nên gắn kết hơn, sẽ giúp đỡ nhau để phát triển cao hơn nữa. (Lẽ nào lại không thể!)
Như một cách hiểu đơn giản là nhất tiễn hạ song điêu, người làm ra L’Art à Hué đã cho ta thấy rằng khi đối diện với nó, kẻ dốt chữ thì thưởng thức nhiều hơn về hình ảnh, cảm nhận sự tỷ mỉ, tinh xảo và sáng tạo biến hóa của các hình tượng qua tranh minh họa; kẻ yếu về óc mỹ thuật thì nghiền ngẫm con chữ, với biên khảo nghiêm túc, mang tính khoa học, các nhận xét tinh tế, đáng suy ngẫm và hiểu hơn về tính cách dân ta qua nền mỹ thuật thời ấy. Vì thế với người yêu chữ hay yêu hình, đều bị nó mê hoặc.
L’Art à Hué hội tụ được sự đa dạng đáp ứng sự thỏa mãn cho độc giả và đặc biệt là người chơi nhiều khía cạnh, đó là lý do tại sao nó là một viên ngọc rất đặc biệt trong bộ B.A.V.H mà các tay chơi đều mong muốn sở hữu, tay chơi lớn như Cụ Vương từng nức nở khen và sung sướng khi có được nó và sầu não đứt từng khúc ruột khi mất nó. Nhiều tay chơi sách cổ xem nó như một báu vậy trong nhà, tay chơi gạo cội than thở trên hồi ký chơi sách của mình rẳng còn chưa được sở hữu bản 1919. Một số tay còn khẳng định, có nó trong nhà mới là tấm vé bước vào thế giới Indochine, một thế giới kỳ ảo mà gần đây các nhà làm sách mới dần khai thác triệt để như một mỏ quặng quý hiếm.
Có những kẻ lợi dụng danh tiếng của nó có được mà thổi giá lên một cách rất hoang tưởng, như bản đời đầu 1919 lên đến 10.000 usd, chưa rõ thực hư ra sao nhưng trên các trang bán của nước ngoài nó chỉ rơi vào tầm vài trăm usd cho bản 1930. Khoảng gần 10 năm trước, có tay chơi Sài Thành bán bản 1930 không còn đẹp lắm, bị lỗi hơi ẩm chút đỉnh với cái giá 5tr cho tay chơi xứ Trầm được xem là cái giá quá tốt. Năm ngoái, tôi có dịp trò chuyện với một tay lái Sài Thành, được biết rằng giao dịch thành công cho quyển L’Art à Hué 1919 còn khá đẹp cứng cáp chỉ tầm trên dưới 30 triệu VNĐ. Những huyền thoại về nó cứ dai dăng mãi nhưng cũng dần được bạch hóa thời gian gần đây, bắt đầu được tái bản và biên tập lại trong một xu hướng tìm về các sách Pháp ngữ tại Đông Dương thuở trước.
NIỀM CẢM HỨNG CHO CÁC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU VỀ MỸ THUẬT VN VÀ HUẾ:
– L’Art à Hué trở nên niềm cảm hứng nghiên cứu cho các tác giả sau này, một phần nó khơi gợi những ý tưởng mới phái sinh, phần khác nó cũng là căn cứ làm nền tảng nghiên cứu cho các chủ đề có liên quan sau này. Các công trình nghiên cứu sau có sự gắn bó mật thiết như: Nghệ Thuật xứ An Nam của Henri Gourdon (1933) chịu ảnh hưởng khá nhiều từ L. Cardière, Nhã Nam cũng có dịch in lại năm 2017; Mỹ Thuật Nguyễn của Nguyễn Hữu Thông (2019) do Tao Đàn và NXB Tổng Hợp TP.HCM làm (xuất bản lần đầu năm 1992 với tiêu đề Mỹ Thuật Thời Nguyễn Trên Đất Huế, với một nhóm tác giải cộng sự gồm: Dương Phước Luyến – Lê văn Sách- Nguyễn Hữu Thông- Mai Khắc Ứng- Trần Đại Vinh, chủ biên là Nguyễn Hữu Thông và hình ảnh đen trắng cùng một số ít trang màu, khổ vuông nhỏ khiêm tốn, không hiểu vì sao đến lần xuất bản mới nhất này lại chỉ có tên tác giả Nguyễn Hữu Thông); Lược Sử Mỹ Thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh…
Ngoài ra nó còn là sự khơi mạch, là tấm gương cho các nghiên cứu về Mỹ thuật thời Lý, thời Trần của các ấn bản sau này. Về sau rất nhiều các nghiên cứu về mỹ thuật theo khuôn mẫu ấy và phát triển thêm, tuy nhiên về sức hấp dẫn thì các nghiên cứu sau đó vẫn không thể có sức hút mãnh liệt như L’Art à Hué, phần lớn các nhà nghiên cứu văn hóa, mỹ thuật đều xem đây là một hình mẫu không thể bị quên lãng, đủ để thấy tầm vóc của nó quan trọng thế nào.
CÁC BẢN ĐÃ IN TẠI VIỆT NAM
Tính đến thời điểm này (tháng 4/2020) có các lần xuất bản chính thức ấn phẩm L’Art à Hué sau: – Năm 1919 trong bộ chuyên đề B.A.V.H- Những Người bạn cố đô Huế, đây là bản in L’Art à Hué lần đầu tiên sau nhiều năm thai nghén của nhóm nghiên cứu.
– Năm 1930 được tách ra in lại một lần riêng, người ta hay gọi là Tân Bản, với một dòng tiêu đề ngay trên bìa để nhận biết: Nouvelle édition.
– Năm 1997-2016 trong việc dịch in lại bộ B.A.V.H – Những Người Bạn Cố Đô Huế của một nhóm dịch giả gồm 10 hộp/ 30 tập cho các năm từ 1914 -1944, trong đó có bản L’Art à Hué được dịch bởi Hà Xuân Liêm, Phan Xuân Sanh và xuất bản với Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, đây có thể được xem là bản tiếng Việt đầu tiên mà độc giả có thể vừa tham khảo bài dịch Tiếng Việt vừa có thể xem các tranh minh họa một cách khá đầy đủ mà trước đó chưa thể. Ở bản tiếng Việt đầu tiên này, chất lượng về in ấn, giấy, đồ họa mang mức độ dưới trung bình, hình hoàn toàn đen trắng, độ phân giải thấp nên hình in mờ và vỡ nét, có lẽ theo chủ trương cập nhật phổ thông hóa kiến thức nên về hình thức in ấn không đạt. Giai đoạn này người ta có thể nghĩ rằng, giải quyết cơn đói trước hơn là việc phải ăn ngon mặc đẹp như thế nào, có lẽ phần nào được thông cảm hơn bởi lý do trên. Bộ này hiện được tái bản làm lại bằng phiên bản bìa cứng đang lần lượt ra mắt lại và chưa đủ bộ so với phiên bản bìa mềm trước đó.
– Năm 2013, Nhà xuất bản Thế Giới có in lại bản 1930, theo kiểu in lại nguyên bản tiếng Pháp, không dịch, về mặt hình thức và hình ảnh có thể chấp nhận được gần như là một bản sao của bản gốc, có thể nói hình ảnh được tái hiện khá sinh động và gần giống với bản gốc nhất, sự cầu thị được đánh giá cao là vài bản phụ màu được in trên giấy bóng Couche nên thấy được vẻ đẹp của hình tốt hơn, tiếc là nó không được việt hóa, và bìa đã làm lại khác xa so với bản gốc.
– Cũng nên nói thêm vào trước đó, năm 2011, hai dịch giả Ứng Tiếu và Công Tằng Tôn Nữ Lan Hương đã dịch từ phần Các Họa Tiết Hoa Văn trở đi (tức bỏ đi hai phần khảo cứu đầu tiên trong bản gốc L’Art à Hué ) in thành tập sách tựa đề là: Hoa Văn Cung Đình Huế, NXB Tổng Hợp TP.HCM do đơn vị Hương Trang phát hành, đây được xem là phiên bản biến thể thu nhỏ và không đầy đủ của L’Art à Hué. Bản này ít được xuất hiện và có vẻ rất khiêm tốn về mặt hình thức nên ít người biết đến.
– Năm 2019 bản của Thái Hà Books/ NXB hà Nội nhân kỷ niệm 100 năm ngày ra đời bản đầu tiên.
– Năm 2020 bản của Nhã Nam / NXB Thế Giới nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Nhã Nam.
KẾT CẤU CỦA L’ART À HUÉ
– L’Art à Hué kết cấu nội dung gồm 2 phần, phần đầu là các bài nghiên cứu đánh giá tổng quan của hai tác giả là Linh Mục Léopold Michel Cadière (chính) và Edmond Gras (một bài duy nhất về Thành phố, nhà ở, đồ gỗ, hàng ren). Tiếp theo đó, Léopold Michel Cadière đi vào phân tích các hình ảnh và chất liệu để tạo nên các biểu tượng cho việc thiết kế, trang trí trên các ứng dụng khác nhau của nghệ thuật xứ Huế, những chi tiết này được tổng hợp từ thực tế và phân loại một cách tương đối hợp lý, cách tiếp cận của Léopold Michel Cadière là về các chủ đề trang trí nội ngoại thất của các nghệ nhân là chính, tuy có đề cập đến các phần khác như điêu khắc thuần túy hoặc tranh phong cảnh có liên quan nhưng không là trọng tâm. Về cơ bản bao gồm theo thứ tự như mục lục sau (lấy theo bản dịch mới nhất của Nguyễn Thanh Hằng- Nhã Nam 2020):
Cách phân chia mục của các bản dịch thường tuân thủ đúng theo nguyên bản, chỉ có ngôn từ dịch có thể khác đi giữa các bản.
Tất cả các hình vẽ và 222 tranh minh họa phụ bản do các họa sĩ đảm nhiệm bao gồm: Nguyễn Văn Nhơn, Tôn Thất Sa, Lê Văn Tùng, Trần Văn Phềnh.
II – L’ART À HUÉ – BẢN CỦA THÁI HÀ BOOKS VÀ NHÃ NAM.
Câu chuyện bắt đầu thật sự gay cấn là bất ngờ vào 2019, Thái Hà Books quyết tâm làm và ra mắt phiên bản mới, với một lý do để cho chính danh là kỷ niệm 100 năm ngày xuất bản lần đầu 1919- 2019, bản dịch và biên soạn bởi một nhóm nhà nghiên cứu về Huế, vai trò dịch chính là TS. Lê Đức Quang.
Sự nhanh tay của Thái Hà Books làm các nhà làm sách khác không kịp trở tay, Omega + (O+) ngơ ngác, Đông A trăn trở, Nhã Nam trầm tư, Tổng hợp TPHCM, Văn Hóa Văn Nghệ bối rối chưa kịp hoàn hồn…mọi nhà đều nghĩ, đúng ra mình nên làm bản này sớm hơn, trong khi một số còn tiếc nuối và từ bỏ ý định, thì một số lại âm thầm tính kế khác để còn có vai trò và dấu ấn với L’Art à Hué, hoặc tiếp tục cố đấm ăn xôi, hoặc phải làm khác biệt, đặc sắc hơn nữa.
Thái Hà Books khá thành công về mặt thương mại và ghi dấu ấn của mình một cách nhanh nhạy, điều lạ là ít tai ngờ tới, bởi dòng nghiên cứu mỹ thuật thì Thái Hà Books là một tay khá non trẻ, thậm chí còn chưa ra được sản phẩm nào một cách ấn tượng trước nay về lĩnh vực này. Người ta vẫn đang ghi nhớ Thái Hà Books hiện tại chỉ mạnh về sách Tâm linh và Y học thực dưỡng và những những vấn đề liên quan gần như vậy. Cũng chính sự vội vàng và mới mẻ này làm cho sản phẩm của Thái Hà book cũng thuộc dạng không được xuất sắc.
Thái Hà Books làm 3 phiên bản: Bản siêu đặc biệt để đấu giá, các buổi đấu giá cũng khá đình đám và là những sự kiện sách lớn trong năm 2019 (như bài cuối năm ngoái có đề cập). Phiên bản cấp trung là 100 bản đặc biệt có hộp gỗ bìa cứng áo khoác cũng đã nhanh chóng hết hàng bởi một số đối tác phân phối; Với bản này, bìa cứng đúng ra khâu chỉ gáy và có thể mở ra 180 độ thì ở đây khâu xong dán gáy như kiểu đóng keo bìa mềm nên không thể mở phẳng ra 180 độ, đây là điều rất đáng tiếc; Tuy hộp gỗ có vẻ thô sơ và hơi kỳ cục nhưng cũng lạ lẫm và được nhiều người chấp nhận. Cuối cùng là bản phổ thông bìa mềm với cách design bìa thật sự không mang tính thẩm mỹ cao nhằm đồng bộ với tác phẩm, hiện tại sách cũng còn tương đối ít tại các cửa hiệu sách. Ở cả 3 phiên bản chỉ khác nhau hình thức thể hiện bìa hay hộp bên ngoài, về chất lượng in ấn thì không khác, những hình ảnh minh họa được xử lý đồ họa khá tệ và non tay, về cắt tỉa và xử lý đường nét hình ảnh khá nhiều lỗi, màu sắc có thể đã sai lệch ít nhiều so với bản gốc, một số hình ảnh thiếu độ phân giải đã làm nhòe nhoẹt hình ảnh vốn lấy mỹ thuật làm thế mạnh, và nó trở thành một điểm yếu không thể che lấp hoặc biện minh. Các bản L’Art à Hué của Thái Hà Books có thể ví như một cô gái tốt tính, nết na, đảm đang nhưng lại trú ngụ trong một ngoại hình không đẹp, tầm thường và có chút gì đó trục trặc tiềm ẩn trong lục phủ ngũ tạng.
Chính vì khả năng design và đồ họa của Thái Hà Books còn ở mức hạn chế, nên việc lấy nội dung bù lại là một điểm cố gắng đáng ghi nhận, trong lần dịch thuật và xuất bản này, Thái Hà Book đã đưa một vài bài nghiên cứu, bình luận có liên quan vào xem như thể hiện sự đào sâu với tác phẩm. Một cách bạo gan mà nói, các bài nghiên cứu thêm vào này theo thiển ý nhà quê của tôi là chưa hẳn đã đầy đủ và chất lượng hoặc xứng tầm với tác phẩm, một vài nhận xét tương đối vụng và cách biện minh khá ngây ngô theo kiểu chống chế cái dở của dân ta để phản biện lại các luận điểm mà L. Cadière nói về sự hạn chế mỹ thuật cùng nghệ nhân An Nam, với nhà nghiên cứu trong lần in 2019 này, sự hiểu biết và cảm thụ chưa được sâu về tác phẩm và trình phản biện của dịch giả cũng như nhà nghiên cứu chưa thật sắc bén thuyết phục được nhiều người. Mặc dù với các học vị cùng thâm niên hành nghề cũng như lý lịch học khoa học tương đối tốt nhưng cách viết bài và văn phong không được tự nhiên mượt mà hấp dẫn lắm, cấu trúc bài nghiên cứu viết chưa thật sự xứng tầm vóc lớn.
“Gần 150 trang cho các bài viết của nhóm dịch và nghiên cứu đã không làm cho tác phẩm gốc thêm sinh động mà làm thêm sự rườm rà không cần thiết và gần như phá hỏng sự lung linh của tác phẩm gốc” – ấy là nhận xét quá mạnh mẽ táo bạo của một vài tay chơi trong những buổi đấu láo sách vở, tôi thì không dám lạm bàn thế, chỉ để đây cho đa dạng về sự cảm thụ. Cũng nên khách quan mà nói, các bài viết ấy ít nhiều cũng cung cấp được một vài thông tin liên quan bổ sung cho tác phẩm dành cho các độc giả không chuyên hoặc có ít thời gian nghiên cứu sâu lĩnh vực này, đặc biệt là hiểu biết hơn về bộ B.A.V.H và cuộc đời tác giả chính của tác phẩm, rất có thể do người đọc chưa hiểu hết được ý của dịch giả và các bài nghiên cứu ấy chăng!.
Một khía cạnh nhìn nhận khác có thể thấy rằng, các bài nghiên cứu thêm vào ấy có mang hơi hướng truyền thông và phục vụ kế hoạch lan tỏa sản phẩm hơn là hàm lượng mang tính khoa học trong đó. Nếu tinh tế nhận thấy rằng hiện tại, truyền thông internet đã gần như phủ kín các bài viết, hình ảnh liên quan đến bản này khi có một người nào đó tìm kiếm thông tin về L’Art à Hué trên google. Như thế để thấy rằng Thái Hà Books đã độc chiếm các từ khóa trên các kênh báo chí, mạng xã hội, các trang thương mại…
Tuy nhiên điều này sẽ chấm dứt trong tương lai không xa, khi ngay những ngày cả nước còn “đang ở đâu ở yên đó” thực hiện cách ly xã hội, thì Nhã Nam (+ NXB Thế Giới) đã tung ra loạt các phiên bản L’Art à Hué, gây một sự ồn ào cộng đồng sách. Riêng 500 bản hộp bìa da si ép nhũ, mạ vàng 3 cạnh đã không còn hàng sau vài ba ngày mở bán, cái giá 500k cho một bản hình thức như vậy có thể được coi là cái giá “rất chấp nhận được” từ phía các tay săn lùng.
Một ngày đầu tháng tư, chiếc xe tải con đã vét hết kho Nhã Nam, mang đầy bản đặc biệt rải ra khắp các tay lái vệ tinh. Tay lái trẻ bản đặc biệt lớn nhất thành Đại La đã đóng vai trò phân phối hơn một nửa phiên bản này. Một tay lái tại thành Vinh đã không chịu thua kém với gần 150 bản, phần còn lại chia cho các tay lái nhỏ hơn ở một vài tỉnh thành, một số đã đẩy hết và một số còn đang găm hàng chờ đợi, điều ngạc nhiên là các tay lái Sài Thành im lặng và không có động tĩnh, nhưng nghe bảo đã cất vào kho gần 50 bản – có vẻ “một hành vi thể hiện sự quá nguy hiểm”.
Sự khan hiếm này bắt đầu thể hiện rõ khi các tay chơi chậm thông tin đã lang thang khắp mạng xã hội, lân la hỏi các bản đặc biệt và nhận không ngớt lời từ chối đơn hàng bởi không đâu còn nữa, đành ngậm ngùi ấm ức lấy tạm bản bìa cứng phổ thông và chờ sự nhỏ giọt nào đó. Tuy là bản phổ thông giá cực rẻ với hơn 1.500 bản nhưng chất lượng có thể xem là quá tốt với phân khúc giá tầm trên dưới 300k. Bản phổ thông bìa cứng của Nhã Nam nếu so tương đương với bản bìa cứng của Thái hà Books thì thấy hơn hẳn cả về nhiều mặt, từ chất lượng đến giá thành.
Một tay chơi thực thụ Sài Thành đã ôm không dưới 10 hộp đặc biệt với niềm đam mê bất tận, y đã từng sở hữu bản 1930, các bản trong bộ dịch B.A.V.H của Thuận Hóa, bản của NXB Thế Giới 2013, sự khoái cảm đã dâng đầy không gian tủ sách khi 10 bản này đổ về làm y lâng lâng mãi trong buổi chiều Sài Thành đổ mưa trái mùa, còn gì vui hơn khi vây quanh y là những bản L’Art à Hué đầy mầu nhiệm cùng các ấn bản sách mỹ thuật dân gian và nước ngoài của các danh họa khác.
Một điều khá bất ngờ là có thông tin một tay chơi xứ cuối cao nguyên Đông Nam Bộ đã chơi lớn chuẩn bị ra mắt 20 bản bìa da cừu ngay trong tháng 4 này trên nền tảng bản đặc biệt. Quả là những chuỗi khá thú vị trong dòng chảy sách của năm 2020, một giai đoạn dịch bệnh tàn phá mọi thứ, ấy thế mà con người ta vẫn tìm kiếm chơi bản đặc biệt khi những gói mì trên gác đã vơi dần trong mùa cái nắng mưa lẫn lộn của mùa hè. Điều ấy cho thấy phần nào đó nhu cầu về sức mạnh tinh thần không kém gì so với lương thực thiết yếu khác chăng.
ĐÔI ĐIỀU LƯỢM LẶT THÊM TỪ BẢN NHÃ NAM
Về chất lượng in rất tốt, cả hai phiên bản đều dùng ruột sách in như nhau, giấy định lượng lên tới 120 gsm, tương đối dày so với các ruột sách phổ thông khác chỉ tầm 80-100 gms. Hình ảnh được xử lý cẩn thận, màu sắc tuy không thể đạt bằng các bản gốc năm 1919/1930 nhưng có thể được xem là tầm 80%, so với các bản khác trừ hai bản gốc ấy, thì đây được xem là bản có hình thức và chất lượng hình ảnh đẹp cho tới thời điểm hiện tại.
Design có bài bản lớp lang và tuân thủ những nguyên tắc nhất định, có xu hướng tôn trọng nguyên bản nhiều hơn, các khung viền trong bài viết và đầu chương mục vẫn tôn trọng 8 loại loại xen kẽ nhau như ở bản gốc. Hình minh họa để kích thước cũng gần với bản gốc hơn. Trong bản của Thái Hà Books thì đã thu nhỏ hình ảnh minh họa gần 50% làm cho các chi tiết đã mờ còn nhỏ và tủn mủn nên rất khó có sự thoải mái khi thưởng thức như một tác phẩm nghệ thuật, cũng ở bản Thái Hà Books, các viền trang trong phần nội dung cũng đã được thay thế bằng viền hoa văn vuông, khá khô cứng và nhàm chán so với 8 loại của bản gốc.
Layout có phần theo bản gốc hơn: Layuot từ nội dung (thu hẹp chiều ngang cột chữ nội dung phần đầu- nhìn thoáng, và tôn lên nội dung hơn) đến cách xắp xếp hình minh họa (lớn, rõ và riêng biệt độc lập) tương đối gần với bản gốc, làm cho người đọc nếu có từng xem qua bản gốc sẽ có cảm tình và có chút gợi nhớ cũng như sự gắn kết mật thiết, tổng hòa làm cho phiên bản này có cảm xúc hơn. Nhìn vào hình các hoa văn rồng phượng, cá chép, bình phong kỳ lân, một góc mái ngói cùng sự tỷ mỉ công phu với đầy màu sắc tươi sáng và tinh tế, người ta dễ quên đi mệt mỏi của đời thường cơm áo và cả dịch bệnh. Các chú thích cũng sắp xếp ở phía cuối sách tương tự bản gốc.
Về phần dịch, tôi có đọc qua hai bản dịch, nhưng lại có sự thích thú hơn với bản của nhà Nhã Nam do Nguyễn Thanh Hằng dịch, không hẳn bởi có cảm tình với hình thức của cuốn sách, mà là cảm giác của sự hấp thụ nó dễ tiếp cận và có vẻ rõ ràng khúc chiết hơn. Với bản của Thái Hà Books, nó dường như hàn lâm hơn thì phải, nhưng đôi chỗ lại bắt gặp lòng vòng khó hiểu, rất nhiều đoạn tôi so sánh thấy rằng, chỉ cần ngắn gọn gẫy góc như cách Nhã Nam làm thì dễ hiểu hơn cách diễn tả rối rắm mông lung của dịch giả Thái Hà Books, hoặc do cách lựa chọn ngôn từ chưa thật phổ quát hay do tính chất vùng miền, tôi cũng không minh định được. Ngay cả cái tựa sách, trước nay người ta chỉ nói “Nghệ Thuật Huế” là đủ là quá trọn vẹn, Thái hà Book đã dịch rằng “Nghệ thuật Và Nghệ Nhân Vùng Kinh Thành Huế” nghe nó có gì đó quá rườm rà không cần thiết. Tôi không thể đánh giá về chất lượng dịch thuật bởi không rành tiếng Pháp và không đủ tầm sánh với các học giả ấy, điều này cần một số nghiên cứu đánh giá của một vài nhà dịch thuật và chuyên môn khác, lẽ dĩ nhiên, tôi không thể lạm bàn khi không có sự hiểu biết trong lĩnh vực này, chỉ nói lên cảm nhận của mình khi đọc hai bản.
Một điều làm tôi có cảm tình hơn là tôi có cảm nhận rằng bản của Nguyễn Thanh Hằng dịch, có gì đó chỉn chu chi tiết trong thái độ làm việc của mình cùng ban biên tập, nó thể hiện tính chất cầu thị và nhìn nhận độc giả là trung tâm của công việc hơn bằng rất nhiều chú thích rất tốt và hữu ích của người dịch. Tôi dẫn dụ vài chú thú rất đáng yêu ví như ngay chú thích đầu tiên giải thích quan điển của từ “le grad art” về một nền “nghệ thuật lớn” với cách hiểu của Người Pháp, chú thích rất kỹ này làm cho độc giả hiểu rõ hơn về điều L. Cadière muốn nói và như vậy cũng đã làm cho sự hiểu lầm trong sự mặc cảm của nghệ thuật ở ta thật sự là điều đáng ghi nhận; Các chú thích cũng rất chăm chút như chú thích tác phẩm điêu khắc Laocoon cho ta hiểu hơn về nghệ thuật Phương Tây với Hy Lạp cổ đại; Cũng như chú thích về Bzantium cho ta biết về một quốc gia cổ; Chú thích khu thành ngoại Saint-antonie… hoặc như chú thích của biên tập rất cẩn thận là giải thích từ An Nam trong tác phẩm này là nên hiểu là Huế và vùng phụ cận tránh cho ta cái nhìn đến cả Đàng Ngoài hoặc về phía cực nam, nó cho ta tập trung về đối tượng chính muốn nói đến hơn là sự mở rộng dẫn đến hiểu lầm hiểu lầm.
Nhã Nam cũng rất biết cách làm gì đó mới và thu hút hơn cho sự gắn kết giữa kim – cổ – đông – tây bằng việc có bài giới thiệu của Étienne ROLLAND-PIEGUE- Tham tán Văn hóa và Hợp tác Đại sứ quán Pháp Tại Việt Nam, Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam, có nét sinh động hẳn lên
MỘT VÀI NHƯỢC ĐIỂM MÀ NHÃ NAM NÊN LÀM TỐT HƠN:
Về phần chú thích hình ảnh, có vẻ như Nhã Nam chỉ chú thích ảnh bìa cho bản bìa cứng phổ thông là đúng, còn lại, quên mất chú thích riêng họa tiết bìa cho bản bìa da. Điều này xem trang 385 sẽ rõ. Cách để chú thích sau sách như bản gốc cũng có thể sẽ bất tiện cho các độc giả mới ngoài chuyên môn. Thái Hà Books lại có phần táo bạo hơn khi phân chia phần chú thích trong mỗi hình minh họa.
Màu sắc xử lý đồ họa và in ấn của các hình minh họa, tuy có thể được xem là đẹp nhất cho đến nay nhưng với bản gố vẫn chưa đạt theo một đòi hỏi cao hơn. Màu sắc bản gốc 1919/1930 với các hình minh họa một màu có tông màu nâu đỏ dạng nghiêng về màu đỏ Bordeaux, hình của Nhã Nam lại ngả sang nâu sậm hơn, nghĩa là có thành phần đen nhiều hơn trong việc đặt thông số màu, dù vậy, nó vẫn trông khá hơn so với tông màu tím hơi nhạt và yếu của Thái Hà Books. Các ảnh minh họa có màu thì Nhã Nam tương đối đẹp, tuy vậy, nếu tay thiết kế có kinh nghiệm in ấn sẽ thấy rằng tổng thể nó ngả về xanh ngọc nhiều hơn xanh lá so với bản gốc, màu đỏ hơi ngả về cam. Điều này thể hiện càng rõ trong các tranh phong cảnh và đặc biệt hình con cá bằng gốm. Xử lý việc này, các tay designer nên điều chỉnh giảm màu xanh C và tăng màu vàng Y một chút hợp lý sẽ có được kết quả gần với bản gốc hơn.
Ngoài những điểm yếu trên, với bản đặc biệt Nhũ mạ 3 cạnh có vẻ không được bám chắc vào cạnh sách, kỹ thuật này có vẻ mới mẻ với Nhã nam, dẫn đến khi đọc, các bụi nhũ vàng bám vào tay rất nhiều, một số rơi rụng vào trang sách rất thú vị. Cũng vì thế mà sau vài lần đọc khoảng một tuần, bụng sách đã trở nên bạc phếch loang lổ, không còn óng ánh rực rỡ nữa.
Bìa da simili của bản đặc biệt có gì đó hơi là lạ với vết khâu 3 cạnh, tuy là bản đặc biệt nhưng Nhã Nam vẫn muốn có chút phổ thông hóa, trung hòa hơn để được nhiều độc giả yêu sách đẹp sở hữu nên nó không kiểu vượt quá xa về độ xa xỉ như kiểu S100 Đông A hoặc các bản siêu đặc biệt đấu giá của Thái Hà Books, nếu không có hộp thiết kế đẹp hài hòa hoặc độ dày cuốn sách thì có lẽ người ta sẽ bảo nó là một cuốn sổ tay loại sang bán ở các cửa hiệu văn phòng phẩm. Vẫn có gì đáng tiếc khi nó được đóng gáy vuông, nếu khéo hơn có thể vỗ gáy tròn thì rất tuyệt.
III – CUỘC CHIẾN KHỐC LIỆT Ở BÊN LỀ
Nói về dòng sách Pháp Ngữ, mạnh nhất hiện nay là O+ ra mắt đều như vắt chanh cả mấy năm nay, không hiểu lý do gì lại bỏ qua tựa này. Khi các dòng khác vẫn ra đều đặn và có sức hút riêng thì lại bỏ quên viên ngọc sáng này, lý giải có lẽ rằng trâu chậm uống nước đục cũng nên, hoặc không đủ nguồn lực khi đã tập trung khai thác tối đa về dòng sách Pháp ngữ mà nghiêng về văn hóa/sử hơn. Tuy nhiên cũng đáng tiếc cho O+ bởi dòng mỹ thuật hội họa nghệ thuật của nhà này cũng có những đầu rất nặng ký nhưng thiếu L’Art à Hué thì có gì đó như một gia vị truyền thống thiếu trên mâm cơm của gia đình vậy. Tôi chưa có dịp chuyện trò với bên O+ nhưng trộm nghĩ rằng, thế giới vốn đa dạng, đâu phải ai cũng nhất thống được thiên hạ, vì thế chọn một vài sở trường mà triển khai thì tốt hơn, có vẻ trong trường hợp này đúng với O+ chăng.
Một điều khó hiểu là tại sao Văn Hóa Văn Nghệ lại không mặn mà với L’Art à Hué, mặc dù trước đây các sách Pháp ngữ liên quan nghệ thuật dân gian ra khá nhiều và chất lượng, có vẻ như nhà này chỉ quan tâm vài đầu EFEO. Giá như nhà này làm một bản L’Art à Hué như kiểu Tranh Dân Gian thì cũng rất tuyệt vời, nhưng giờ đây đã không còn thị phần dành cho nhà này nữa.
Một số nhà chuyên về dòng sách mỹ thuật như Đông A cũng không tránh khỏi sự bất ngờ. Dự án S100 có dự kiến là sẽ ra bản L’Art à Hué, có cảm giác rằng trường hợp này dài hơi và chậm trễ. Khi các con nghiện S100 và những người thật sự yêu nghệ thuật Huế còn đang chờ đợi Đông A thì Nhã Nam đã in xong và đã phân phối hết 500 “cuốn sổ tay khổng lồ với mép khâu chỉ điệu đà”- bản đặc biệt có hộp, bìa Simili, ép nhũ vàng 3 cạnh, cùng 1500 bản bìa cứng đã làm rung chuyển đế chế S100, bao vây khắp các trang mạng xã hội
Đông A dường như còn đang say ngủ trên các sản phẩm S100, gần như vô đối với dòng sách nghệ thuật đóng bìa thủ công, bất ngờ đã bị một nhát kiếm chí mạng, nó nhanh, gọn và tàn nhẫn đến mức có vẻ như làm mọi người quên luôn sự chờ đợi bản này trong bộ S100, làm cho ông chủ dự án vẫn còn đang phân vân có nên tiếp tục với S100 L’Art à Hué hay không. Thật là cay nghiệt trong những ngày ông chủ S100 hì hục cách ly ở nhà với bộ đồ nghề đục đẽo thử nghiệm bìa da mỹ thuật thì Nhã Nam đã bán hết bản đặc biệt, đã đếm tiền và cất hết vào két chờ ngày dỡ bỏ lệnh cách ly mùa dịch bệnh. Nó đau đớn đến mức mà ông chủ của S100 úp mở với sự cảnh giác cao độ trong dự định loạt Indochine trong năm 2020, đã không dám nêu các tựa cụ thể một cách tự tin như trước nữa vì sợ những nhát kiếm bất ngờ của các tay xung quanh như trường hợp vừa rồi. Quả là một trái đắng khó nuốt trôi, có gì đó làm mọi người liên tưởng tới nhát kiếm huyền thoại kết mạng đối thủ của Kiếm Thánh Nhật Bản – Miyamoto Musashi trong kiếm phổ “Ngũ Luân Thư” vậy, Nhã Nam đã vung kiếm với dáng hình L’Art à Hué và Đông A đã lãnh một đòn đau đớn. Dĩ nhiên nó chưa thể hạ gục hoàn toàn được L’Art à Hué phiên bản S100, vẫn sẽ có lượng fan trung thành bấy lâu chờ đợi, vẫn xôn xao và khát khao, nhưng như vậy là chưa đủ với S100, bởi nó đã phá vỡ uy nghiêm, tính toàn vẹn độc tôn và sự cuồng nộ vốn có của dòng này, điều mà ông chủ của S100 khó mà chấp nhận được.
Vẫn chưa hết, vừa hụt hơi ở bản L’Art à Hué với Nhã Nam, thì nghe đâu lại bị cú ngáng đường ở bản “Một Chiến Dịch Ở Bắc Kỳ” của BS. HOCQUARD (xuất bản lần đầu năm 1892 tựa gốc UNE CAMPAGNE AU TONKIN), O+ đã quá nhanh tay để có thể sẽ thu cả tấn tiền lẻ về trước khi các tuyệt tác của Đông A chiếm lĩnh phân khúc cấp cao. Ông chủ của S100 buộc phải nhá hàng bản này trong tháng 5 sau một đêm trăn trở khi thấy các tay lái đang đồng loạt cho đặt hàng bản cứng của O+; Nhưng có vẻ đó là tiếng kêu ai oán rất có chủ đích và khéo léo là mong độc giả hãy bình tĩnh chờ đợi, hy vọng níu kéo một lượng độc giả khi sắp rơi lần lượt vào vòng tay của các nhà khác, trong trường hợp này là của O+. Cuộc chiến có lẽ không bào giờ là khoan nhượng.
Để kết thúc, có lẽ không thể không nhắc đến bài thơ của V.Muraire, Nguyễn Thanh Hằng dịch, ngay đầu sách, với đoạn cuối trầm buồn, sâu lắng và day dứt:
“Vẫn còn đây ngôi chùa cùng những khung cửa biểu tượng, Nơi các thánh tích uy nghiêm vẫn nghi ngút khói hương, Mà rất chậm rãi, đâu đó, đang tắt dần ánh quân vương.”
Bài này chỉ là một phần bài của bác Nhão Sách đăng trên Facebook. Cảm ơn tác giả đã cho phép đăng lại trên trang blog của Hảo Vũ Viết.
Hình thức bên ngoài
Lợi thế của Omega+ chỉ là thời gian ra trước vài ngày, và tự hào rằng nó là cuốn được dịch đầu tiên tại Việt Nam, nghe có vẻ rất mạnh mẽ, nhưng Đông A đã có một sản phẩm rất tốt về mặt in ấn và đồ họa – một lợi thế mà Omega+ không thể có. Về mặt chung trong design, in ấn và làm bìa áo, thì Đông A rõ ràng hơn Omega+ một bậc.
Tuy nhiên khi nhìn vào series vàng ánh kim của Đông A thì lại là một vấn đề, nếu đứng độc lập thì có thể rất nổi trội, nhưng nó đã quá nhiều kiểu này dẫn đến sự nhàm chán, theo lẽ thường, cái gì nhiều quá và lạm dụng cũng không tốt, trong một chuỗi các cuốn sách bìa ánh kim và ảnh đen trắng như vậy, rất khó để nhận biết sự khác biệt và tạo một cái gì đó mới, mặc dù nó cũng tương đối hoàn hảo, « Một chiến Dịch Ở Bắc Kỳ» nhìn cũng na ná như « Quo Vadis », « Khát Vọng Sống » hay như « Robinson Crusoe »… chỉ khác ánh lên màu hồng kim nhẹ, vậy vấn đề ở đây là cảm xúc mới của độc giả trung thành với Đông A, họ vẫn thấy thiếu cái gì đó mang tính mới để họ khỏi lặp lại cái lối mòn thường ngày, mặc dù cái thường ngày ấy cũng tương đối tốt rồi.
Với bìa cuốn của Omega+, tuy trình design chưa thể đạt mức thượng thừa, nhưng ít ra nó cũng đạt mức chấp nhận được và có màu sắc sinh động, nhìn có vẻ khá ấm áp và có gì đó quen thuộc với sự liên hệ của những vấn đề liên quan, tông màu cờ Pháp làm chủ đạo, hình ảnh trận một trận công thành với các trang phục thời ấy nom khá thú vị, một vài đường nét bản đồ ẩn hiện, như vậy cũng có thể có chút thông điệp gì đó cho nội dung. Như cách nói của CEO bên Omega+ thì thiết kế bìa lần này trên quan điểm rằng muốn tôn trọng và thể hiện góc nhìn của người Pháp/tác giả cuốn sách đối với các sự kiện, văn hóa phong tục của người bản địa An Nam hơn là tự bản chất của sự kiện phong tục ấy được toát lên, nói cách khác, muốn minh định rằng, nội dung cuốn sách là góc nhìn của người ngoài nhìn vào.
Nó hoàn toàn khác với cách thiết kế bìa mà CEO của Đông A quan điểm làm nổi bật các chủ đề của nội dung sách. Design bìa của Đông A có chút công phu, mặc dù không dựa trên màu sắc làm điểm mạnh, mà chỉ là về kỹ thuật bố cục theo phong cách cổ điển, đó cũng là một ý tưởng tốt, nhưng như đã nói ở trước, nó bắt đầu lặp lại nhiều lần na ná nhau, dẫn đến khá tẻ nhạt.
Tuy nhiên Đông A cũng có những câu chuyện tuyệt vời xoay quanh nó, bản thân CEO của Đông A đã trực tiếp design bìa này nên không lạ khi nó được thêu dệt nhiều câu chuyện, thậm chí là cả huyền thoại hoặc có vẻ cho rằng đang khai minh cho độc giả về kỹ thuật design và layout với sự liên hệ tương quan giữa sách cổ Indochina và hiện nay. Đây cũng là những chủ đề khá mới mẻ để tác động và làm cho câu chuyện series bìa vàng ánh kim bớt phần nhàm chán chăng, kể ra cũng là một cách sáng tạo trong việc truyền thông.
Công bằng mà nói, hình ảnh minh họa của bản Đông A rõ nét và giữ được kỹ thuật tạo hình của ngày trước là những nét vẽ lưới, không như bản của Omega+ đã biến thành những hạt tram theo kỹ thuật offset hiện tại. Nhìn hình của bản Đông A người ta sẽ thấy được kỹ thuật thời ấy, còn bản của Omega+ lại không đặt nặng vấn đề ấy nên làm nó trở nên như bức tranh vẽ bút chì.
Kích thước của nhà Omega+ khiên tốn và phổ thông hơn với 16x24cm, bằng kích thước của bản thấp nhất của Đông A, nó thể hiện sự bình thường như bao khổ sách khác, không nổi trội. Ngược lại, với sự thể hiện đặt nặng nhiều về hình thức và rất tâm huyết, bản cao cấp Đông A thể hiện bằng khổ sách lớn hơn, rất đồ sộ 18,5×26,5 cm, làm cho nó chiếm một không gian lớn hơn và nổi bật hơn về hình thể.
Giấy in của Omega+ là Couché nên khá nặng và chắc nịch, nếu ai sở hữu cuốn Leonardo Da Vinci bìa cứng thì có thể hình dung nó gần tương tự vậy, tuy nhiên ở cuốn này lại chỉ in đen trắng cho các hình minh họa, không được lung linh sắc màu như tranh của Da Vinci. Lợi thế về sự nhỏ gọn cho việc mang đi và di chuyển cũng sẽ làm một số độc giả quan tâm hơn. Thông thường nếu cần đẹp về hình ảnh thì in Couché là một lợi thế, tuy nhiên khả năng xử lý đồ họa trong các chi tiết hình minh họa và chỉ in đen trắng nên không thể là điểm mạnh để so sánh với Đông A.
Nếu thật sự một người đặt nặng về thưởng thức hình ảnh, thích thể hiện trong sự trưng diện và đồng cảm với sự hoành tráng, thì gần như họ sẽ chọn của Đông A, các hình ảnh được xử lý rất tỉ mỉ, có cảm giác là rất gần với bản gốc, đặc trưng kỹ thuật vẽ là các đường lưới còn được thể hiện trên hình rất rõ, kích thước hình ảnh cũng lớn hơn nên khi xem bức tranh minh họa của Đông A, người ta có cảm giác đứng trước một khoảng không nơi mà thời gian bị biến mất trong thoáng chốc. Rõ ràng mọi thứ Đông A có vẻ nổi trội nhưng chỉ có một điểm yếu duy nhất là mang danh là kẻ bám đuổi, thế nên dù gì, Đông A vẫn luôn đang cố gắng xóa đi cái mặc cảm là người đi sau trong bản này của Omega+.
Phần bản dịch
Về phần dịch của hai nhà cũng nên nói sơ qua. Nhà Omega+ với nữ dịch giả trẻ Thanh Thư, phần dịch của nhà Đông A là một cụ già đã hơn chín mươi Đinh Khắc Phách. Cả hai bản đôi khi có những lỗi nhỏ nhưng đó là điều cũng không gì quá nghiêm trọng.
Tuy chưa đọc khi sách chưa ra mắt, nhưng phần lớn các nhà bình luận mạng đã nhận xét rằng, bản dịch của nhà Đông A tốt hơn bởi theo lối suy nghĩ rằng do sự trải nghiệm cuộc sống và thâm niên sử dụng tiếng Pháp của dịch giả lớn tuổi. Tuy nhiên, không hẳn thế, tôi cũng đã có tham khảo sơ cả hai bản và so sánh ở một số đoạn để thấy vài điểm khác biệt.
– Dịch giả Thanh thư sử dụng từ ngữ trẻ trung hơn, mang tính hiện đại và thời sự ; Những cổ ngữ hoặc những tiếng lóng, thành ngữ lại được dịch giả Đinh Khắc Phách sử dụng nhiều hơn làm cho ta nhớ về những câu chuyện mà ông bà ta hay kể từ thời thơ ấu.
– Về tổng thể, ngôn từ của dịch giả Đinh Khắc Phách có phần mạnh mẽ và táo bạo hơn, phương diện này được dịch giả Thanh thư mềm mại hóa lại, đôi khi có chút rụt rè, ngôn từ cũng khá dè dặt, điển hình như nói về Trung Quốc thời đó, Thanh Thư dùng từ hiện đại ngày nay là « Trung Quốc », nhưng đối với với Đinh Khắc Phách, ông đã rất bạo gan dùng từ « Tàu » để diễn tả anh bạn láng giềng phía bắc- điều khá nhạy cảm mà không phải dịch giả hoặc nhà làm sách nào cũng can đảm đưa lên để xin xuất bản.
Ở một số đoạn, ở bản dịch của Đinh Khắc Phách lại có xu hướng làm cho ta có cảm giác thấy bị châm chọc miệt thị hoặc xem thường dân An Nam ta, nó có hơi hướng của sự kỳ thị. Nhưng với đoạn dịch của Thanh thư mang tính hài hước nhẹ nhàng, giống như châm biếm bởi chất giọng văn cà khịa của tác giả. Điều này cho độc giả sự cảm nhận khác như những vị rượu vậy, không phải ai cũng nhận ra sự tinh tế của cả hai, một cụ già trải qua thương đau chiến tranh và chứng kiến những mất mát, những thăng trầm sẽ có cái nhìn khá nghiêm khắc với cuộc sống hơn, một cô nàng trẻ trung lẽ dĩ nhiên phải có sự nhìn nhận lạc quan hơn và mọi thứ rất nhẹ nhàng. Điều này rõ ràng phản ánh vào chất vị bản dịch của cả hai.
Phần chú thích thì dịch giả Đinh Khắc Phách và ban biên tập Đông A có phần chịu khó hơn, rất tỷ mỉ và giải thích bằng kiến thức đồ sộ có được từ dịch giả, tuy nhiên ở một số chú thích có phần thể hiện thái quá, làm cho ta có cảm giác tự tin ở mức cao khi thường xuyên phản biện lại ý của tác giả, độc giả cũng có thể hơi bỡ ngỡ bởi cái tôi của dịch giả thể hiện tương đối lớn nó gần như có sự kèn cựa với cả tác giả, và hay cho rằng tác giả nhầm lẫn, điều này xuất hiện quá nhiều cũng là một điều cần xem lại, vì khi xem qua thấy một số phản biện rất phù hợp, một số lại có vẻ chưa hiểu rõ hàm ý tác giả trong ngữ cảnh mà phê rằng tác giả nhầm lẫn hoặc cho rằng tác giả « nói dóc ».
Phương diện chú thích của Thanh Thư và biên tập Omega+ có phần ít và tương đối sơ sài. Điều này cũng dẽ hiểu bởi sự chênh lệch về tuổi đời và vốn sống của cả hai là một khoảng cách lớn. Nhưng nhìn nhận chung thì mỗi bản dịch đều có những cái hay riêng của mình, các bạn trẻ thì có lẽ thấy dễ hấp thụ hơn bởi văn phong của cô nàng Thanh Thư, người già hoặc thích những ngôn từ xưa hơn, thì lại chuộng bản dịch của Đinh Khắc Phách để tìm chút hoài cổ hơn.
Kết
Rất khó có thể đánh giá hơn thua trong cuốn này, bởi hai quan điểm làm sách của mỗi nhà mỗi khác, Omega+ xuất phát từ quan điểm rằng sách để đọc, để khai minh, kế đến đẹp thì tốt, với Đông A thì sách phải đẹp trước tiên, đọc hay không còn xem lại, có thể để chưng diện sưu tầm với kiêu hãnh vẩn vơ, … thế cho nên như ai bảo rằng mọi so sánh đều là khập khiễng, nên chỉ là mua vui với con chữ vậy.
Và cuối cùng tôi yêu cả các nhà làm sách ấy, miễn là sản phẩm tốt, giá thành hợp lý.
Có thể nếu chứng kiến cảnh tượng này, Bác Sỹ Hocquard có thể sẽ viết thêm vào đoạn cuối:
« Người An Nam rất lạ, các cu li của tôi hôm rồi ra phố, họ có mua về cho chúng tôi hai cuốn được dịch qua tiếng của người An Nam, họ còn bảo, nếu cần thêm bản khác ông hãy chờ thêm một thời gian, có một xưởng cũng đang in thêm một bản dịch nữa. Tôi thật bất ngờ, không nghĩ rằng những người An Nam bé nhỏ ở đây lại có sự đam mê tác phẩm của mình như thế, mặt khác lại có rất nhiều nhà đã dịch và in ra, điều đáng khâm phục là họ in ấn đẹp như ở ta vậy.
Một số người Người An Nam cãi nhau về các bản dịch và hình thức của cuốn sách họ đang cầm, họ rất quan tâm những điều nhỏ nhặt như thế, sự tủn mủn khiến họ không nghĩ việc lớn được. Thỉnh thoảng còn có tay nhà nho tủm tỉm cười khi có được chữ ký và triện trong sách, làm bọn trẻ ranh xung quanh không hiểu được gì. Có một người cu li nhắc tôi rằng, sao tôi không lấy tiền bản quyền của các nhà, tôi bảo họ rằng, anh quên là tôi đã chết quá lâu rồi sao…”
Những cuốn sách về lịch sử, liệt kê trong danh mục sách lịch sử hay chỉ cần gắn với chữ “sử” chưa bao giờ nằm trong list sách ưu tiên tìm hiểu của tôi. Nhưng tiến sĩ Harari đã khiến tôi có một cái nhìn khác về lịch sử, thông qua cuốn sách Homo Sapiens – Lược sử loài người của mình.
Năm nay là năm 2020 Công Nguyên, tính thêm 1000 Tr.CN vào sẽ được khoảng hơn 3000 từ khi các triều đại, đế chế thành lập đến nay, vậy mà chúng ta đang đối diện với những thách thức về biến đổi khí hậu, sự tuyệt chủng, các dịch bệnh, … cảm giác về ngày tận thế sẽ đến bất cứ lúc nào. Đem so sánh hơn 3000 năm đó với chiều dài 3,8 tỉ năm, kể từ khi sự sống xuất hiện trên trái đất, thì chỉ là một chấm nhỏ.
Trong sinh vật học, homo là tên gọi của một chi động vật, bao gồm nhiều loài có những đặc điểm tương đồng như: homo neanderthal, homo floresiensis, homo erectus, … và homo sapiens – loài người duy nhất còn tồn tại đến ngày nay – chính là bạn và tôi. Homo sapiens là phiên âm tiếng Latinh, có nghĩa: người thông minh.
Xuất hiện vào cách đây khoảng 200 ngàn năm trước từ Đông Phi, Homo Sapiens đã di cư đến khắp mọi vùng trên trái đất. Họ đi đến đâu là khiến cho hệ sinh thái ở nơi đó bị biến đối, nhiều loại động vật bị tuyệt diệt. Họ là nhân tố góp phần vào sự tuyệt chủng của các loài homo khác, và đến cách đây chừng 13 ngàn năm, chi Homo chỉ còn lại duy nhất loài Sapiens.
Trong thời gian hơn 200 ngàn năm tồn tại của mình, đến nay Sapiens đã trải qua 4 cuộc cách mạng lớn, mà kết quả sau mỗi cuộc cách mạng đó đều làm thay đổi cuộc sống của họ – cũng như thay đổi hệ sinh thái. Lần lượt các cuộc cách mạng Nhận thức, cách mạng Nông nghiệp, cách mạng Khoa học và cách mạng Công nghiệp đã diễn ra, sản sinh ra Tôn giáo, Chính trị, Tiền tệ, Kinh tế, … cùng với các loại hình thái xã hội: chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa xã hội, …
Hơn 500 trang sách, chuyển tải thần kỳ qua những câu chuyện, khiến cho những kiến thức tưởng như khó nuốt về lịch sử trở nên gần gũi, thân thuộc như ta vừa xem một bộ phim chiếu trong rạp vậy. Trung tâm và nguyên nhân dẫn đến tất cả các cuộc cách mạng chính là những câu chuyện thần thoại (myth) – những hình tượng được xây dựng nên bởi trí tưởng tượng của Sapiens. Như dân tộc Việt Nam, tinh thần và chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã được xây dựng và vun đắp từ hàng ngàn năm qua, bởi câu chuyện thần thoại về mẹ Âu Cơ và bố Lạc Long Quân, sinh ra người Việt trong cùng một bào thai – để từ đó chúng ta trở thành “đồng bào” của nhau.
Các nền văn minh cổ đại, các đế chế mạnh nhất từng được biết đến đều nằm trên lưu vực của những con sông lớn, như người Việt cổ phát triển trên lưu vực sông Hồng. Châu Âu chưa bao giờ là vùng đất được nhắc đến trong lịch sử cổ đại, trung đại và cận đại. Vậy tại sao giờ họ được gọi là lục địa già, và là những quốc gia giàu có nhất thế giới. Câu trả lời chính là vì họ đã tự đặt mình là những người ngu dốt, họ đều nói rằng “Tôi không biết có những gì ở ngoài kia” Họ luôn nghĩ rằng thế giới còn rất nhiều điều mình chưa biết, luôn có thứ gì mà họ không biết, nên họ mới dong thuyền đi khám phá tìm ra Tân thế giới, bóc lột, đồng hoá và huỷ hoại lần lượt các nền văn hoá này đến nền văn hoá khác. Chỉ chưa đầy 500 năm, họ đã phân chia lại thế giới, tạo dựng nên thế giới của hiện nay.
Kể từ cuộc cách mạng Công nghiệp đầu tiên xảy ra cách đây hơn 200 năm, ngày hôm nay chúng ta đang ở trong cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 – liên quan đến công nghệ. Cũng có thể nói, chúng ta đang trong hai cuộc cách mạng song song: cách mạng công nghệ thông tin và cách mạng công nghệ sinh học. Kết quả của cuộc cách mạng này đang làm thay đổi thế giới từng ngày. Chẳng ai biết 30 năm sau sẽ như thế nào. Loài homo cuối cùng sẽ biến mất?
Chỉ biết rằng thế giới đang chuyển từ toàn cầu hoá sang chủ nghĩa dân tộc. Anh và Mỹ đang là những lá cờ tiên phong. Dịch COVID-19 bùng phát cũng là một nhân tố để chủ nghĩa dân tộc thể hiện sức mạnh cũng như những ưu thế của mình.
Không chỉ mang đến những cái nhìn mới cho những người quan tâm đến lịch sử. Homo Sapiens – Lược sử loài người còn mang đến những kiến thức quý bái, uyên thâm cho tất cả chúng ta, từ chính trị, kinh tế, tôn giáo, khoa học, tâm lý học, triết học, sinh học, …
Xin được giới thiệu cuốn sách này tới tất cả những ai quan tâm đến loài người!
Thật tình cờ khi tôi chọn đọc Robinson Crusoe vào đúng ngày đầu tiên cách ly xã hội, COVID-19 đã đưa đẩy tôi đến với cuốn sách và cho tôi được trải qua những ngày tháng năm của cuộc đời Robinson. Những trải nghiệm vì thế mà có phần sâu sắc hơn.
KHÁT KHAO THEO ĐUỔI ĐAM MÊ
Đó là thứ khát khao của tuổi trẻ, nó mạnh mẽ đến mức không gì có thể ngăn cản nổi. Robinson đã bỏ ngoài tai tất cả những lời khuyên mà cha đã dành cho mình để dấn thân vào đam mê chinh phục biển cả, đắm mình vào những cuộc phiêu lưu đầy hiểm nguy và cũng đầy những điều mới mẻ.
Trước khi đọc Robinson, tôi có xem The Platform, một bộ phim được đánh giá rất cao trên Netflix, khi đối chiếu với những lời cha Robinson, tôi thấy có những sự tương đồng. Trung đạo là cuộc sống mà sau này tất cả chúng ta đều mong muốn có được. Tầng trên và tầng dưới đều chứa đựng những mối nguy hiểm khó lường.
Nhưng đó là câu chuyện của sau này – khi ta đã trải qua cả tầng trên lẫn tầng dưới rồi ta mới nhận ra được – còn giờ, Robinson vẫn đang là một chàng trai trẻ, chứa trong mình khát khao có thể đốt thành tro mọi lời nói có ý khuyên can mình. Khi gặp giông bão thật sự, khi lâm vào những tận cùng của sợ hãi, ta tự hứa rằng sẽ không bao giờ lao vào tình huống đó lẫn nữa. Vậy mà qua được rồi, chỉ vài tuần trôi qua, ta lại xem như chưa hề có chuyện đó xảy ra vậy.
Đó là Robinson. Đó là những suy nghĩ và hành động của tuổi trẻ. Mà chúng ta ai cũng đang, đã từng hoặc rồi sẽ trải qua cái tuổi này. Hãy cứ khát khao, hãy cứ dại khờ như Steve Jobs đã từng nói.
KHI CHẲNG CÒN ĐƯỜNG NÀO ĐỂ LUI, BẠN BUỘC PHẢI TÌM CÁCH TIẾN VỀ PHÍA TRƯỚC.
Chỉ có một điều có thể chắc chắn vào tương lai, đó là sự không chắc chắn. Chẳng ai biết chắc chắn ngày mai sẽ ra sao, thứ gì đang đợi ta ở phía trước. Robinson cũng chẳng thể nghĩ rằng việc bỏ đồn điền đang ăn lên làm gia ở Brazin để đi buôn lại đưa anh đến một hòn đảo hoang như thế. Bao nhiêu dự định, kế hoạch vạch ra bỗng chốc tan thành mây khói.
Bùm! Bỗng một ngày tất cả những tai hoạ từ lần lượt ập đến, ta bị đưa đẩy đến mất phương hướng. Rầm! Mọi thứ tan tành, chỉ có bản năng sống mới giúp cho Robinson đưa ra những lựa chọn đúng đắn, để tự cứu mình thoát ra khỏi cơn bão đinh mệnh đó. Và giờ anh nhận thấy một mình giữa đảo hoang.
Chẳng còn đường để lui, chẳng còn ai để bấu víu. Robinson có thể chọn cách ủ rũ buồn rầu, than trách số phận, than khóc với Chúa tối cao và chết dần trong vô vọng. Nhưng anh đã không làm thế, anh suy tính từng bước, hành động ngay khi gặp thời cơ, bất cứ thứ gì xảy ra đều tìm ra cho mình những khả năng tích cực. Học trồng lúa, thuần hoá dê, làm đồ gốm, … Từng bước một, không đầu hàng, Robinson đã trở thành Chúa đảo.
Chẳng thế mà người cha trong bộ phim Parasite đã nói với con trai mình: Kế hoạch tốt nhất không bao giờ thất bại là không có kế hoạch nào cả. Nên là hãy chuẩn bị tâm thế để đối mặt với bất cứ thứ gì đến với mình và tìm cách vượt qua nó.
HI VỌNG – THỨ DUY NHẤT ĐỂ CON NGƯỜI SỐNG TIẾP
Khi chiếc hộp Pandora được mở ra, nó mang đến cho loài người sự thù hận, tham lam, đố kỵ, … chỉ duy nhất hi vọng còn xót lại. Và nó đã giúp cho Robinson có thể vượt qua hết thảy những cảm giác mà cuộc sống cách ly hoàn toàn với xã hội loài người đã mang đến cho anh.
Khi gieo những hạt lúa đầu tiên, anh hi vọng nó sẽ lớn lên và cho ra nhiều hạt lúa khác. Khi mang về con dê con đầu tiên, anh hi vọng sẽ gây dựng được một bầy dê nuôi, vì thuốc súng hết. Khi nhìn thấy vết chân người đầu tiên, dù rất hoang mang, Robinson vẫn hi vọng đó có thể là bước chân đồng loại của mình. Cứ như thế, anh nuôi vẹt để dạy nó tiếng người, biến Thứ Sáu thành đồng mình của mình, …
Hi vọng luôn tồn tại trong mỗi chúng ta. Từ nhỏ, bố mẹ đã cho ta ăn học trong môi trường tốt nhất với hi vọng sau này ta có cuộc sống sung sướng hơn. Khi còn mài đít trong ghế giảng đường, ta cố gắng học thật tốt để hi vọng sau này ra trường sẽ kiếm được công việc dễ dàng hơn. Khi mới đi làm, ta phấn đấu làm việc thật nhiều, kiếm tiền thật nhiều để hi vọng sẽ mua xe, mua nhà, … Và giờ ta hi vọng sẽ sớm tìm được thuốc đặc trị COVID-19 để ta có thể trở lại cuộc sống bình thường như trước kia.
Robinson nuôi dưỡng cho hi vọng rời khỏi đảo của mình để nó ngày một lớn thêm thông qua niềm tin với Chúa. Từ một người chẳng tin vào Thiên Chúa, anh đã trở thành một người truyền bá niềm tin của mình cho Thứ Sáu. Rồi niềm tin đó, hi vọng đó cuối cùng đã giúp anh trở về sau 28 năm, 02 tháng, 19 ngày sống trên đảo.
Đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều cuốn sách viết về đổi mới sáng tạo đã được viết ra. Mỗi cuốn là một đúc kết từ cách thức hoạt động của một doanh nghiệp đã đạt được những thành quả đột phá hoặc dẫn đầu trong lĩnh vực của mình. Nếu tìm kiếm một vài cuốn để tham khảo, chắc chắn nhiều người sẽ bị choáng ngợp.
Xuất phát điểm là một người trong lĩnh vực sản xuất phim, lại được làm việc trong một công ty sản xuất phần mềm, nên tôi bị thu hút bởi những cuốn sách viết về văn hoá của các công ty thuộc hai lĩnh vực này. Đây cũng là hai lĩnh vực đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo liên tục để không bị đánh bại trong một thế giới không thể đoán trước như hiện nay.
Khi đọc những cuốn sách, tôi luôn có sự so sánh giữa các ý tưởng trong sách với những văn hoá mà mình đã từng trải nghiệm, để cân nhắc xem điều gì là hơn-thua, điều gì có thể áp dụng để mang lại những thay đổi tích cực và điều gì không thể áp dụng được. Do đó, 3 cuốn sách được giới thiệu bên dưới sẽ gần gũi, có ý nghĩa và có thể áp dụng hiệu quả đối với các công ty đang hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo như: Giải trí (làm phim, âm nhạc, …), agency quảng cáo, sản xuất phần mềm/ứng dụng công nghệ.
Work Rules! Quy tắc của Google | Laszlo Bock
Nền tảng văn hoá Google là phương pháp giáo dục Montessori. Những người sáng lập là Larry Page và Sergey Brin đều trải qua môi trường giáo dục này từ nhỏ. Môi trường dạy học này được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu học tập và tính cách của trẻ, trẻ em được khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, làm những gì chúng muốn. Sự phát triển của học sinh là quan trọng nhất.
Sự phát triển của mỗi cán bộ nhân viên là quan trọng nhất đối với Google. Không có phòng mang tên “Quản trị nhân sự” ở Google, mà thay vào đó bằng bộ phận “Phát triển con người”, bởi con người (bao gồm cả quản lý và nhân viên) ở Google là những cá thể cần được phát triển, chứ không phải là những cỗ máy cần phải quản trị. Đối với Larry và Sergey “Nhân viên của chúng tôi, những người tự nhận mình là Googler, là tất cả mọi thứ.”
Và mọi chính sách trong tuyển dụng, đãi ngộ, văn hoá, giá trị của Google đều được xây dựng và phát triển dựa trên nền tảng đó. Nhân viên ở Google được trao quyền nhiều hơn. Họ luôn cảm nhận, suy nghĩ và hành động như một người chủ chứ không phải của một nhân viên.
Delivering Happiness – Tỷ phú bán giày | Tony Hsieh
Đây là cuốn sách kể câu chuyện về quá trình hình thành, phát triển của Zappos, được kẻ bởi chính CEO của họ, Tony Hseih. Zappos là một công ty bán giày qua mạng thành lập năm 1999 và được Amazon mua lại vào năm 2009 với giá 1,2 tỷ đô.
Nổi tiếng trên toàn thế giới về văn hoá dịch vụ khách hàng, Zappos còn được biết đến với một văn hoá doanh nghiệp vô cùng ấn tượng. Văn hoá Zappos được xây dựng nên bởi tất cả nhân viên theo cách đúng nghĩa của nó. Từ cuốn “Sổ tay văn hoá” đến Giá trị cốt lõi trong văn hoá của Zappos đều là sản phẩm của trí tuệ tập thể. Tony viết mail cho toàn thể nhân viên để yêu cầu mỗi người cùng đóng góp một phần công sức, trí tuệ của mình vào việc xây dựng chúng.
Điều quan trọng là những giá trị này đều vì lợi ích và sự phát triển của chính những nhân viên, để mang lại hạnh phúc cho nhân viên. “Chỉ những người hạnh phúc mới có thể mang đến những trải nghiệm hạnh phúc cho người khác.”
Creativity, Inc. Vương quốc sáng tạo | Ed Catmull
Không chỉ đơn thuần là câu chuyện kể về Pixar Animation theo tôn chỉ “Story is King” của Pixar, Ed Catmull đã chia sẻ những kiến thức sáng suốt, xuất sắc của mình trong việc xây dựng nên một công ty có môi trường sáng tạo không ngừng nghỉ. Khi đọc xong cuốn sách này vào năm 2018, tôi đã viết hai bài chia sẻ: Sự thẳng thắn, trung thực của Pixar và Những bài học quý giá dành cho Nhà lãnh đạo. Mời bạn nhấp vào link để tìm hiểu.
Giữa “Ý tưởng” và “Con người”, cái gì là quan trọng hơn? Chắc hẳn câu trả lời của đa số mọi người sẽ nghiêng về “Ý tưởng”. Nhưng ở Pixar, “Con người” là yếu tố được coi trọng hơn. Đối với Ed, một ý tưởng tốt đưa cho một đội ngũ tồi sẽ không bằng một ý tưởng vừa vừa được thực hiện bởi những con người thực sự gắn kết.
Sự thành công trong bất kể lĩnh vực, khía cạnh nào đều mang đến nhưng trạng thái cảm xúc vô cùng phức tạp. Có rất nhiều người, nhiều công ty đạt được một thành công nào đó rồi đứng yên ở đó, ôm ấp, bảo vệ nó rồi biến mất. Nỗi sợ khi thử một cái mới, ý tưởng mới hay phương thức mới, là vô hình nhưng có thật. Sợ thay đổi là một phản ứng tự vệ mang tính bản năng của con người, tổ chức và xã hội. Creativity, Inc. thực sự sẽ giúp những người muốn thay đổi có thể Overcoming the Unseen Forces That Stand in the Way of True Inspiration.
Được nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg bình chọn là “Cuốn sách của năm” cũng đủ khiến Creativity, Inc. đáng được chú ý. Nhưng được Forbes, Financial Times, The New York Times cùng Jim Collins, Seth Godin dành cho những lời khen ngợi thì “Vương quốc sáng tạo” là một cuốn sách thật sự đáng đọc.
Sáng tạo là Văn hoá doanh nghiệp
Tôi xin chia sẻ lại một định nghĩa mới về văn hoá doanh nghiệp mà tôi vừa tìm hiểu được gần đây với các bạn:
Văn hoá là tập hợp của các ngôn ngữ, hành động, tư tưởng và “đồ vật”; nhằm xác định và củng cố những giá trị được đề cao tại tổ chức.
Ngôn ngữ là những thuật được dùng để miêu tả nơi làm việc. Hành động là các hành vi trong môi trường làm việc. Tư tưởng là niềm tin, là thế giới quan mà người lao động mang đến nơi làm việc. “Đồ vật” là những nhân tố vật lý và hữu hình tại nơi làm việc.
Như vậy, để xây dựng một văn hoá đổi mới sáng tạo, trước tiên cần phải xây dựng một văn hoá doanh nghiệp có nền tảng phù hợp cho sáng tạo đổi mới. Giá trị “sáng tạo” được đề cao tại một tổ chức, thì có thể ngôn ngữ phù hợp sẽ là SÁNG TẠO, hành vi được khuyến khích sẽ là HỌC HỎI, niềm tin của nhân viên là THỬ CÁI MỚI, và “đồ vật” là không gian làm việc được thiết kế giàu tính giao tiếp, thoáng đãng, …
Google, Zappos, Pixar đều cần ít nhất 5 năm mới xây dựng và hình thành nên bản sắc văn hoá ủng hộ, khuyến khích đổi mới sáng tạo của mình. Nếu bạn muốn có được văn hoá này, hãy xem lại định nghĩa về văn hoá ở trên, đọc 3 cuốn sách tôi đã chia sẻ và bắt đầu xây dựng ngay từ hôm nay nhé!